Theo quy định của pháp luật Việt Nam, lần đầu tiên, quyền bào chữa được ghi nhận là một trong số các quyền con người cần được bảo vệ khi có sự cáo buộc của nhà nước đối với một người về một hành vi phạm tội. Quyền này được quy định tại Khoản 4 Điều 31 Chương II về Quyền con người, quyền cơ bản của công dân với nội dung “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”. Từ đó, quyền bào chữa của người bị buộc tội đã được cụ thể hóa qua Bộ luật Tố tụng Hình sự hiện hành, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, cũng như đảm bảo cho thủ tục tiến hành tố tụng được chính xác, khách quan và chặt chẽ.

1. Bào chữa là gì?

Bào chữa trong tố tụng hình sự (TTHS) được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau: Bào chữa là quyền của người bị buộc tội, là chế định tố tụng, là chức năng đảm bảo quyền bào chữa, theo nguyên tắc của TTHS.

Theo đó, bào chữa có thể được hiểu là tổng hoà các hành vi do người bị buộc tội hoặc người bào chữa của họ thực hiện trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của các cơ quan tiến hành tố tụng, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội trong vụ án hình sự”.

2. Người bào chữa

Dựa trên quy định chung về quyền bào chữa tại Điều 16 BLTTHS 2015 thì “người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa” để bác bỏ một phần hay toàn bộ sự buộc tội của các cơ quan tiến hành tố tụng hoặc làm nhẹ trách nhiệm hình sự trong vụ án hình sự đối với người bị buộc tội. Nói cách khác, đó chính là quyền pháp lý mà người bị buộc tội nói chung có được khi là một bên chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng hình sự.

Bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự được quy định tại chương V Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

Cụ thể, quy định về người bào chữa được nêu rõ ở Điều 72 BLTTHS 2015

Điều 72. Người bào chữa

  1. Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa.
  2. Người bào chữa có thể là:
  3. a) Luật sư;
  4. b) Người đại diện của người bị buộc tội;
  5. c) Bào chữa viên nhân dân;
  6. d) Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.
  7. Bào chữa viên nhân dân là công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức pháp lý, đủ sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức thành viên của Mặt trận cử tham gia bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình.
  8. Những người sau đây không được bào chữa:
  9. a) Người đã tiến hành tố tụng vụ án đó; người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng vụ án đó;
  10. b) Người tham gia vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;
  11. c) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người bị kết án mà chưa được xoá án tích, người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc.
  12. Một người bào chữa có thể bào chữa cho nhiều người bị buộc tội trong cùng vụ án nếu quyền và lợi ích của họ không đối lập nhau.

Nhiều người bào chữa có thể bào chữa cho một người bị buộc tội.

3. Thủ tục đăng kí bào chữa vụ án hình sự

Được quy định tại Điều 78 BLTTHS 2015, cụ thể:

  1. Trong mọi trường hợp tham gia tố tụng, người bào chữa phải đăng ký bào chữa.
  2. Khi đăng ký bào chữa, người bào chữa phải xuất trình các giấy tờ:
  3. a) Luật sư xuất trình Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và giấy yêu cầu luật sư của người bị buộc tội hoặc của người đại diện, người thân thích của người bị buộc tội;
  4. b) Người đại diện của người bị buộc tội xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và giấy tờ có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về mối quan hệ của họ với người bị buộc tội;
  5. c) Bào chữa viên nhân dân xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử bào chữa viên nhân dân của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận;
  6. d) Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý xuất trình văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lý của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực.
  7. Trường hợp chỉ định người bào chữa quy định tại Điều 76 của Bộ luật này thì người bào chữa xuất trình các giấy tờ:
  8. a) Luật sư xuất trình Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử luật sư của tổ chức hành nghề luật sư nơi luật sư đó hành nghề hoặc văn bản phân công của Đoàn luật sư đối với luật sư hành nghề là cá nhân;
  9. b) Bào chữa viên nhân dân xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử bào chữa viên nhân dân của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận;
  10. c) Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý xuất trình Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.
  11. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận đủ giấy tờ quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kiểm tra giấy tờ và thấy không thuộc trường hợp từ chối việc đăng ký bào chữa quy định tại khoản 5 Điều này thì vào sổ đăng ký bào chữa, gửi ngay văn bản thông báo người bào chữa cho người đăng ký bào chữa, cơ sở giam giữ và lưu giấy tờ liên quan đến việc đăng ký bào chữa vào hồ sơ vụ án; nếu xét thấy không đủ điều kiện thì từ chối việc đăng ký bào chữa và phải nêu rõ lý do bằng văn bản.
  12. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng từ chối việc đăng ký bào chữa khi thuộc một trong các trường hợp:
  13. a) Trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 72 của Bộ luật này;
  14. b) Người bị buộc tội thuộc trường hợp chỉ định người bào chữa từ chối người bào chữa.
  15. Văn bản thông báo người bào chữa có giá trị sử dụng trong suốt quá trình tham gia tố tụng, trừ các trường hợp:
  16. a) Người bị buộc tội từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa;
  17. b) Người đại diện hoặc người thân thích của người bị buộc tội quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa.
  18. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hủy bỏ việc đăng ký bào chữa và thông báo cho người bào chữa, cơ sở giam giữ khi thuộc một trong các trường hợp:
  19. a) Khi phát hiện người bào chữa thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 72 của Bộ luật này;

b) Vi phạm pháp luật khi tiến hành bào chữa.

4. Trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa

Sự tham gia bắt buộc của người bào chữa trong TTHS là một chế định đầy tính nhân văn của BLTTHS nói chung và BLTTHS 2015 nói riêng. Quy định của luật về sự tham gia của người bào chữa vào trong vụ án không phụ thuộc vào ý chí của bị can, bị cáo như là sự nhân đôi bảo đảm quyền bào chữa cho người bị buộc tội.

Điều 76 Bộ Luật tố tụng hình sự 2015 đã chỉ ra hai trường hợp mà theo đó, nếu người bị buộc tội; người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho người bị buộc tội. Hai trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa đó là:

– Thứ nhất, Người bị buộc tội là bị can; bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình.

Với việc quy định bắt buộc phải có người bào chữa với bị can, bị cáo có mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm, tù chung thân, tử hình (mức hình phạt của tội phạm đặc biệt nghiêm trọng) đã cho thấy pháp luật nước ta luôn chú trọng bảo vệ tối đa quyền con người.

– Thứ hai, Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi.

Nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích không mời người bào chữa; thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải đảm bảo quyền bào chữa đối với người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi.

Ngoài ra, đối với trường hợp người bị buộc tội dưới 18 tuổi nhưng tới thời điểm khởi tố; truy tố xét xử người bị buộc tội đã đủ 18 tuổi thì trên tinh thần của Mục II.2b NQ 03/2004 NQ-HĐTP; người bị buộc tội sẽ không được coi là trường hợp phải bắt buộc có người bào chữa nữa.

5. DỊCH VỤ TƯ VẤN THỦ TỤC ĐĂNG KÍ BÀO CHỮA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ CỦA LUẬT HUY HOÀNG LONG

Luật Huy Hoàng Long cung cấp các dịch vụ:

– Tư vấn chi tiết thủ tục đăng kí người bào chữa, xem xét hồ sơ vụ án, đưa ra đề xuất và kiến nghị về phương thức giải quyết;

– Hướng dẫn, cùng khách hàng chuẩn bị và nộp hồ sơ;

– Đại diện ủy quyền tham gia tố tụng theo tiến trình giải quyết  vụ án.

Trên đây là bài viết về thủ tục đăng kí bào chữa trong TTHS, hy vọng rằng bài viết này sẽ mang đến những nội dung thật sự bổ ích đến khách hàng trên thực tế. Nếu cần chúng tôi hỗ trợ dịch vụ hãy liên hệ ngay với Luật Huy Hoàng Long theo thông tin dưới đây.

LUẬT HUY HOÀNG LONG
Điện thoại: 0944580222
Email: tuvan@luathuyhoang.vn
Website: https://luathuyhoanglong.vn/
️ Địa chỉ:  Tầng 2, LK05 – Khu đô thị 54, ngõ 85 Hạ Đình, phường Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *