Trong hoạt động tố tụng hình sự, để giải quyết một vụ án hình sự gồm 4 giai đoạn cơ bản là: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Mỗi giai đoạn có những quy định về trình tự thủ tục khác nhau, được tiến hành một cách độc lập do từng cơ quan, cá nhân có thẩm quyền có trách nhiệm thực hiện. Tuy nhiên, mỗi giai đoạn đều có mối liên hệ mật thiết với nhau, là một trình tự thống nhất bắt buộc để giải quyết các vụ án hình sự.

Khởi tố vụ án hình sự là sự phản ứng nhanh chóng từ phía Nhà nước đối với mỗi hành vi phạm tội nhằm góp phần phát hiện, điều tra và xử lý một cách có căn cứ và đúng pháp luật hành vi phạm tội và người phạm tội, đồng thời không chỉ là chức năng quan trọng trong hoạt động tư pháp hình sự, mà còn là phương tiện cơ bản để thực hiện tốt nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm trong thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự, tránh bỏ lọt tội phạm;

1. Khởi tố vụ án hình sự là gì?

Khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự cơ bản và quan trọng để tăng cường pháp chế, bảo vệ các quyền và tự do của công dân trước khi khởi tố bị can và áp dụng các biện pháp nghiệp vụ của giai đoạn điều tra, cùng với các giai đoạn tố tụng hình sự khác góp phần có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm trong toàn xã hội.

Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của hoạt động tố tụng hình sự, theo đó các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành điều tra, xác minh có các dấu hiệu của tội phạm trong các hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện, sau đó ban hành quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi đó.

2. Căn cứ để khởi tố và căn cứ không khởi tố vụ án hình sự

Căn cứ khởi tố vụ án có vai trò quan trọng trong giai đoạn khởi tố. Việc tiến hành khởi tố chỉ được khởi động nếu xác định có căn cứ khởi tố. Căn cứ khởi tố vụ án là cốt lõi của các hoạt động mở đầu của quá trình TTHS. Việc khởi tố đúng pháp luật hay không phụ thuộc vào căn cứ khởi tố.

Quy định cụ thể tại BLTTHS 2015:

Điều 143. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự.

Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:

  1. Tố giác của cá nhân;
  2. Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
  3. Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;
  4. Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;
  5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;
  6. Người phạm tội tự thú.

Khi khởi tố vụ án chỉ cần xác định biểu hiện tội phạm, chưa cần thiết phải xác định đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm được rút ra từ khái niệm tội phạm và các dấu hiệu cấu thành tội phạm. Tại thời điểm ra quyết định khởi tố vụ án, chưa yêu cầu xác định ngay người thực hiện tội phạm là ai, hành vi thực hiện tội phạm diễn ra như thế nào. Căn cứ khởi tố vụ án trả lời cho câu hỏi: Dựa vào đâu ? Dựa vào cái gì ? để quyết định mở cuộc điều tra theo trình tự, thủ tục TTHS.

Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự được quy định tại Điều 157 BLTTHS 2015

Điều 157. Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự

Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các căn cứ sau:

  1. Không có sự việc phạm tội;
  2. Hành vi không cấu thành tội phạm;
  3. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;
  4. Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;
  5. Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
  6. Tội phạm đã được đại xá;
  7. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;
  8. Các tội phạm chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.

3. Kiểm tra nguồn tin của tội phạm và ra quyết định tương ứng

3.1. Kiểm tra nguồn tin:

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gắn với thẩm quyền điều tra, do đó cơ quan có trách nhiệm kiểm tra, xác minh nguồn tin để quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự bao gồm: Cơ quan điều tra và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra.

Điều 147 quy định về thời hạn, thủ tục giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố:

Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra một trong các quyết định:

  1. a) Quyết định khởi tố vụ án hình sự;
  2. b) Quyết định không khởi tố vụ án hình sự;
  3. c) Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Trường hợp vụ việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn giải quyết tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng.

Trường hợp chưa thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh trong thời hạn quy định tại khoản này thì Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền có thể gia hạn một lần nhưng không quá 02 tháng.

Chậm nhất là 05 ngày trước khi hết thời hạn kiểm tra, xác minh quy định tại khoản này, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền gia hạn thời hạn kiểm tra, xác minh.

3.2. Ra quyết định khởi tố vụ án:

Điều 154. Quyết định khởi tố vụ án hình sự

  1. Quyết định khởi tố vụ án hình sự phải ghi rõ căn cứ khởi tố, điều, khoản của Bộ luật hình sự được áp dụng và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
  2. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát phải gửi quyết định đó đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiến hành điều tra.

Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát có thẩm quyền để kiểm sát việc khởi tố.

Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Tòa án phải gửi quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát cùng cấp.

4. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự

BLTTHS 2015 quy định rõ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền được quyền khởi tố vụ án hình sự:

Điều 153. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự

  1. Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả vụ việc có dấu hiệu tội phạm, trừ những vụ việc do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử đang thụ lý, giải quyết quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này.
  2. Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp quy định tại Điều 164 của Bộ luật này.
  3. Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp:
  4. a) Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
  5. b) Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;
  6. c) Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc theo yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử.
  7. Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm.

Với bề dày kinh nghiệm của mình, Luật Huy Hoàng Long tự hào là đơn vị tư vấn trình tự, thủ tục hồ sơ vụ án, đại điện cho khách hàng tiến hành và xử lý các công việc trong quá trình giải quyết vụ án hình sự với cơ quan nhà nước các cấp có thẩm quyền với tư cách đại diện theo uỷ quyền với dịch vụ nhanh và tiết kiệm chi phí nhất cho khách hàng. Nếu có bất kì vấn đề vướng mắc cần giải đáp cụ thể, hãy liên hệ với công ty chúng tôi để được giải đáp và hỗ trợ.

LUẬT HUY HOÀNG LONG

  • Điện thoại: 0944580222
  • Email: tuvan@luathuyhoang.vn
  • Website: https://luathuyhoanglong.vn/
  • ️ Địa chỉ:  Tầng 2, LK05 – Khu đô thị 54, ngõ 85 Hạ Đình, phường Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *